Chuyển biến kiểm tra chuyên ngành chưa đáp ứng được mong đợi của doanh nghiệp

0
518

Kiểm tra chuyên ngành quá mức cần thiết đang là lực cản cơ bản đối với cải cách cải thiện chỉ số “Giao dịch thương mại qua biên giới”; làm tăng chi phí bất hợp lý và tạo gánh nặng hành chính quá mức đối với DN.

Kiểm tra quá mức cần thiết

Là đối tượng ảnh hưởng trực tiếp khi phải thực hiện các quy định về kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa XNK, nhiều DN cho rằng, quản lý, kiểm tra chuyên ngành quá mức cần thiết đang là lực cản cơ bản đối với cải cách cải thiện chỉ số “Giao dịch thương mại qua biên giới”; làm tăng chi phí bất hợp lý và tạo gánh nặng hành chính quá mức đối với DN. Ông Nguyễn Quang Bính, Trưởng Ban khai báo hải quan- Công ty CP sữa Việt Nam cho biết, mặc dù gần 100% hàng hóa XNK được miễn kiểm tra thực tế hàng hóa, tuy nhiên rào cản lớn đối với Vinamilk hiện nay vẫn là việc thực hiện kiểm tra chuyên ngành, bởi vì việc kiểm tra còn chồng chéo, chưa phù hợp với phương pháp kiểm tra của các nước tiên tiến dẫn đến phát sinh vướng mắc, chi phí cho DN. Theo ông Bính,  95% hàng hóa NK của Vinamilk phải kiểm tra an toàn thực phẩm. Trong đó, có những mặt hàng nhập khẩu chủ lực của DN, như: sữa bột, dầu bơ… có tới 2 cơ quan cùng kiểm tra là Cục Thú y của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Cục Vệ sinh an toàn thực phẩm- Bộ Y tế. Các mặt hàng có nguồn gốc từ thực vật, như: cỏ, thức ăn cho bò vừa phải kiểm dịch thực vật, đồng thời vừa phải kiểm dịch thú y của Cục Chăn nuôi…

“Điều đáng chú ý, 20 năm nay, chưa có lô hàng nào của Vinamilk không đạt chất lượng về vệ sinh an toàn thực phẩm, nhưng vẫn phải kiểm tra. Bình quân mỗi tháng Vinamilk tốn khoảng 700 triệu đồng cho chi phí kiểm tra chuyên ngành. Như vậy, mỗi năm tốn khoảng 7-8 tỷ đồng. Đó là chưa kể chi phí phát sinh lưu kho, lưu bãi… do phải chờ đợi kết quả kiểm tra chuyên ngành”- Ông Bính cho biết.

kiểm tra chuyên ngànhTheo Cục Hải quan TP.HCM, tỷ lệ kiểm tra chuyên ngành nhiều, nhưng kết quả kiểm tra lại phát hiện rất ít trường hợp vi phạm. Chẳng hạn, năm 2016, tại đơn vị phát hiện 30/67.224 (chiếm 0,04%) lô hàng không đạt yêu cầu về kiểm tra an toàn thực phẩm, gây lãng phí rất lớn cho DN.

Từ vướng mắc thực tế, các DN kiến nghị, việc kiểm tra chuyên ngành nên quy về một mối, tránh chồng chéo. Đồng thời, xem xét công nhận kết quả kiểm dịch của các nước xuất khẩu tiên tiến. Bởi vì, đối với hàng hóa NK từ các nước tiên tiến, trước khi XK sang Việt Nam DN nước ngoài kiểm tra rất kĩ, cấp giấy chứng nhận kiểm dịch Health cert. Thủ tục kiểm tra chất lượng, kiểm dịch nên phân luồng dựa trên quản lý rủi ro như phân luồng tờ khai hải quan mà cơ quan Hải quan đang áp dụng, rất thuận lợi và minh bạch.

DN chờ chuyển biến

Theo nhận định của các DN, chỉ có cải cách quản lý chuyên ngành mới cải thiện được chỉ số “Giao dịch thương mại qua biên giới”, hiện đang chiếm 72% thời gian thông quan hàng hóa XNK. Thực tế thời gian qua chỉ một vài chuyển biến nhỏ trong quản lý, kiểm tra chuyên ngành, đã có tác động rất lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Chẳng hạn, Bộ Y tế tháo gỡ các vướng mắc, bất cập cho DN chế biến thủy sản trong kiểm tra nhà nước và công bố phù hợp an toàn thực phẩm đối với các nguyên liệu, phụ gia, bao bì nhập khẩu để sản xuất hàng XK; Bộ Công Thương bãi bỏ kiểm tra formaldehyte đối với sản phẩm dệt may… đã được các DN vui mừng ra mặt vì tiết kiệm được rất nhiều kinh phí, thời gian.

Theo bà Phạm Kiều Oanh, Phó Tổng giám đốc Tổng Công ty may Nhà Bè – Công ty cổ phần, Thông tư 37 quy định kiểm định chất amin thơm và formaldehyt trong vải nhập khẩu thay cho Thông tư 32 đã tạo nên những phiền nhiễu, gây bức xúc cho DN trong suốt hơn 7 năm qua; làm DN không những tiêu tốn thời gian mà còn tốn thêm chi phí giám định rất lớn. Chưa kể những chi phí phát sinh do lưu kho bãi trong thời gian DN phải chờ lấy kết quả và được thông quan. Chính vì thế, việc Bộ Công Thương bãi bỏ Thông tư 37 mặc dù quá chậm nhưng DN rất mừng, vì đã trút được gánh nặng suốt 7 năm qua. Không chỉ thuận lợi với DN trong nước, các DN có vốn đầu tư nước ngoài cũng rất phấn khởi khi Thông tư 37 được bãi bỏ. Ông Phạm Văn Hiệp, Phòng XNK Công ty Farshion Garment cho biết, là DN 100% vốn đầu tư nước ngoài chuyên gia công, sản xuất xuất khẩu mặt hàng dệt may, mỗi tháng công ty mở khoảng 1.000 tờ khai hải quan XNK hàng hóa, trong đó, hàng mẫu nhập khẩu khoảng 100 lô, mỗi lô tốn chi phí khoảng 1 triệu đồng cho việc thực hiện kiểm tra hàm lượng formaldehyt trên sản phẩm. Không chỉ tiết kiệm cả tỷ đồng một năm, các DN cho biết, họ còn tiết kiệm được nguồn nhân lực, thời gian chờ đợi, chi phí lưu hàng hóa tại cửa khẩu chờ kết quả kiểm tra chuyên ngành…

Tuy nhiên, những thay đổi trên còn quá ít so với gánh nặng về yêu cầu quản lý, kiểm tra chuyên ngành mà DN đang phải thực hiện. Hiện nay, tỷ lệ lô hàng phải kiểm tra chuyên ngành trước khi thông quan còn rất cao (khoảng 30%), trong khi tỷ lệ không đạt yêu cầu rất thấp, chỉ dưới 1% và Nghị quyết 19 đã  yêu cầu “giảm tỷ lệ các lô hàng nhập khẩu phải kiểm tra chuyên ngành tại giai đoạn thông quan từ 30-35% hiện nay xuống còn 15% đến hết năm 2016”. Ngoài ra, các bộ, ngành chưa áp dụng đầy đủ nguyên tắc quản lý rủi ro hiện đại; vẫn thực hiện quản lý, kiểm tra chuyên ngành đối với 100% lô hàng.

Đáng lưu ý là tình trạng một mặt hàng chịu sự quản lý của nhiều bộ, ngành  hoặc của các đơn vị khác nhau trong cùng một bộ với các cách thức quản lý khác nhau. Thực tế này đã được phản ánh nhiều trong thời gian qua, nhưng nhiều bộ, ngành chưa chủ động phối hợp để đơn giản hóa thủ tục, rút ngắn thời gian cho DN. Chẳng hạn, mặt hàng sữa tươi phải thực hiện kiểm dịch động vật (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý), kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm (do Bộ Y tế quản lý). Mặt hàng sữa bột, phô mai phải thực hiện kiểm dịch động vật (do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn quản lý) và kiểm tra an toàn thực phẩm (do Bộ Công Thương quản lý)…

– Hải Quan Hồ Chí Minh