Những chính sách mới năm 2017

0
514

Từ 1-1-2017, nhiều cơ chế, chính sách tài chính mới sẽ chính thức có hiệu lực như Luật Ngân sách Nhà nước 2015; Luật Phí, lệ phí; mức thu lệ phí môn bài, lệ phí trước bạ,…

Ngày 25-6-2015, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật Ngân sách Nhà nước (NSNN) (sửa đổi). Đây là đạo luật quan trọng tạo bước ngoặt mới trong quản lý NSNN theo hành lang pháp lý mới đầy đủ và đồng bộ hơn, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay, xu hướng hội nhập quốc tế, góp phần quan trọng vào tiến trình cải cách tài chính công theo hướng hiện đại.

Với Luật này, lần đầu tiên có quy định bội chi ngân sách địa phương (NSĐP) là một cấu phần trong bội chi NSNN. Nói cách khác, bội chi NSNN bao gồm bội chi ngân sách Trung ương (NSTW) và bội chi NSĐP. Đây là điểm mới quan trọng để tăng cường kiểm soát bội chi NSNN. Nguồn bù đắp bội chi NSNN từ việc vay trong nước và vay nước ngoài, bao gồm cả việc vay từ phát hành trái phiếu Chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật.

Luật NSNN sửa đổi cũng quy định chỉ NSĐP cấp tỉnh mới được phép bội chi. Bội chi NSĐP chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công 5 năm đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định,… Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi NSĐP để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của NSNN. Bên cạnh đó, Luật NSNN mới cũng đã nêu rõ những quy định về mức dư nợ vay của NSĐP.

Luật NSNN mới đã thực hiện phân cấp, phân quyền khá đầy đủ, toàn diện, rõ ràng, phù hợp với tình hình thực tế: Quốc hội quyết định bội chi NSNN, bao gồm bội chi NSTW và bội chi NSĐP, chi tiết từng địa phương và quyết định nguồn bù đắp bội chi NSNN. Hội đồng nhân dân có quyền giao tăng chỉ tiêu thu NSNN trên địa bàn. Điều này phù hợp với thực tế hiện nay khi Thủ tướng Chính phủ thực hiện giao dự toán thu NSNN trên địa bàn cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương,…

17 khoản phí quan trọng chuyển sang cơ chế giá

Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XIII, Luật Phí, lệ phí đã được thông qua ngày 25-11-2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2017, bãi bỏ Pháp lệnh phí và lệ phí số 38/2011/PL-UBTVQH10.

Luật được xây dựng với mục tiêu là thiết lập khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ về quản lý phí, lệ phí, đảm bảo thống nhất, phù hợp với quy định tại Luật NSNN (sửa đổi) và các văn bản pháp luật có liên quan; từng bước tập trung phản ánh kịp thời, đầy đủ nguồn thu từ phí, lệ phí, khắc phục hạn chế trong quản lý nguồn thu từ phí, lệ phí; đẩy mạnh xã hội hóa một số loại hình dịch vụ công phù hợp với sự vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; góp phần thúc đẩy cải cách hành chính trong các ngành, lĩnh vực cung cấp các dịch vụ có thu phí, lệ phí.

Để khuyến khích xã hội hóa, 44 khoản phí trong Danh mục phí, lệ phí ban hành kèm theo Pháp lệnh phí và lệ phí được chuyển sang cơ giá. Trong đó, 17 dịch vụ mặc dù đã chuyển sang cơ chế giá nhưng Nhà nước vẫn cần quản lý giá. Như vậy, theo quy định tại Danh mục phí, lệ phí kèm theo Luật sẽ bao gồm 213 khoản phí, 103 khoản lệ phí và 17 dịch vụ chuyển từ phí sang giá dịch vụ do Nhà nước định giá.

Để phân cấp quản lý phí, lệ phí, Luật phí, lệ phí đã bổ sung thêm về thẩm quyền miễn, giảm phí, lệ phí. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền quy định miễn, giảm dối với án phí, lệ phí tòa án; Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể đối tượng miễn, giảm đối với từng khoản phí, lệ phí thuộc thẩm quyền được phân cấp trong Danh mục phí, lệ phí.

Trong thẩm quyền của mình, Bộ Tài chính đã ban hành 12 Thông tư quy định 6 nhóm giá sản phẩm, dịch vụ từ phí chuyển sang cơ chế giá do Nhà nước định giá thuộc thẩm quyền quy định giá của Bộ Tài chính, gồm: Giá tối đa sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi; Khung giá kiểm nghiệm thuốc dùng cho thực vật; Khung giá dịch vụ tiêm phòng, tiêu độc, khử trùng cho động vật, chẩn đoán thú y và dịch vụ kiểm nghiệm thuốc dùng cho động vật; Giá tối đa dịch vụ kiểm dịch y tế, y tế dự phòng; Giá cụ thể kiểm định phương tiện vận tải; Giá dịch vụ chứng khoán.

Tăng lương tối thiểu vùng

Ngày 1-1-2017, Nghị định số 153/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động trong năm 2017 có hiệu lực thi hành.

Theo đó, mức lương tối thiểu vùng áp dụng đối với người lao động làm việc ở doanh nghiệp như sau: Vùng I là 3,75 triệu đồng/tháng; vùng II là 3,32 triệu đồng/tháng; vùng III là 2,9 triệu đồng/tháng; vùng IV là 2,58 đồng/tháng. Mức lương này cao hơn mức lương tối thiểu hiện nay từ 180.000-250.000 đồng/tháng.

Đối tượng thụ hưởng chính sách tăng lương tối thiểu 2017, gồm: Người lao động làm việc theo chế độ hợp đồng lao động theo quy định của Bộ luật Lao động; doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp; hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế và cá nhân người nước ngoài tại Việt Nam có thuê mướn lao động theo hợp đồng lao động (trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định khác với quy định của Nghị định này).

Mức thu lệ phí trước bạ, lệ phí môn bài

Trong tháng 10-2016, Chính phủ ban hành Nghị định số 139/2016/NĐ-CP và Nghị định số 140/2016/NĐ-CP quy định về mức thu lệ phí môn bài và lệ phí trước bạ.

Theo đó, theo đó, từ 1-1-2017, Chính phủ quy định giá tính lệ phí trước bạ đối với nhà, đất là giá do UBND địa phương ban hành theo quy định của pháp luật tại thời điểm kê khai, trừ trường hợp nhà thuộc sở hữu Nhà nước, nhà mua theo phương thức đấu giá… Giá tính lệ phí trước bạ đối với tài sản khác được quy định là giá chuyển nhượng tài sản thực tế trên thị trường, trừ trường hợp tài sản đã qua sử dụng thì giá tính căn cứ vào thời gian đã sử dụng và giá trị còn lại của tài sản.

Bộ Tài chính sẽ ban hành Bảng giá tính lệ phí trước bạ theo quy định và có những hình thức áp dụng đối với các loại tài sản khác nhau. Nghị định cũng quy định nhà, đất mức thu là 0,5%; súng săn, súng dùng để tập luyện, thi đấu thể thao là 2%; tàu thủy, sà lan, ca nô, tàu kéo, tàu đẩy, thuyền, du thuyền, tàu bay mức thu là 1%. Xe máy mức thu là 2%. Riêng xe máy của tổ chức, cá nhân ở các thành phố trực thuộc trung ương; thành phố thuộc tỉnh; thị xã nơi Ủy ban nhân dân tỉnh đóng trụ sở nộp lệ phí trước bạ lần đầu với mức là 5%; đối với xe máy nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi được áp dụng mức thu là 1%.

Ô tô, rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc được kéo bởi ô tô, các loại xe tương tự mức thu là 2%. Riêng, ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống nộp lệ phí trước bạ lần đầu với mức thu là 10%. Ô tô chở người từ 9 chỗ trở xuống nộp lệ phí trước bạ lần thứ 2 trở đi với mức thu là 2% và áp dụng thống nhất trên toàn quốc.

Mức thu lệ phí môn bài đối với tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, Nghị định quy định mức thu đối với tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư trên 10 tỷ đồng là 3 triệu đồng/năm; đối với tổ chức có vốn điều lệ hoặc vốn đầu tư từ 10 tỷ trở xuống là 2 triệu đồng/năm; đối với chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế khác là 1 triệu đồng/năm.

Trong khi đó, mức thu lệ phí môn bài đối với tổ chức quy định trên căn cứ vào vốn điều lệ ghi trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; trường hợp không có vốn điều lệ thì căn cứ vào vốn đầu tư ghi trong giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

Cụ thể, lệ phí môn bài đối với cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, Nghị định quy định, cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm thì mức thu là 1.000.000 đồng/năm; cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 300 đến 500 triệu đồng/năm mức thu là 500.000 đồng/năm; cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 100 đến 300 triệu đồng/năm mức thu là 300.000 đồng/năm. Các cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình này có thay đổi doanh thu thì căn cứ để xác định mức thu lệ phí môn bài là doanh thu của năm trước liền kề năm tính lệ phí môn bài.

T.H