Thủ tục miễn, giảm, hoàn thuế theo Nghị định số 134/2016/NĐ-CP

0
547

Ngày 01/09/2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 134/2016/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật thuế xuất khẩu, nhập khẩu số 107/2016/QH13, trong đó quy định cụ thể về thủ tục miễn thuế, giảm thuế, hoàn thuế, đồng thời đảm bảo quyền ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp.

Thủ tục miễn thuế

Theo quy định tại Khoản 2, Điều 17, Luật thuế XNK 2016 thì thủ tục miễn thuế thực hiện theo quy định của pháp luật về quản lý thuế.
Trước đây, thủ tục miễn, giảm, hoàn thuế được quy định tại Thông tư của Bộ Tài chính. Tuy nhiên, theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì thủ tục phải được quy định tại Nghị định.

Do vậy để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng, đảm bảo tính thống nhất và hợp nhất của văn bản pháp luật, thuận lợi cho công tác quản lý, giám sát và triển khai thực hiện, tại từng Điều quy định về miễn thuế của Nghị định đã quy định cả về miễn thuế và hồ sơ thủ tục miễn thuế.

Để tránh trùng lặp trong trường hợp có nhiều điều có nội dung quy định tương tự nhau nên Nghị định dành 2 điều để quy định về hồ sơ, thủ tục miễn thuế áp dụng chung đối với các trường hợp có chung thủ tục là Điều 30 và Điều 31.

Giảm thuế

Tại khoản 2, 3 Điều 32 Nghị định đã quy định cụ thể về hồ sơ đề nghị giảm thuế, thủ tục, thẩm quyền giảm thuế, trong đó quy định cơ sở để xác định hàng hóa được giảm thuế là phải có chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền giám định về mức độ thiệt hại, văn bản xác nhận nguyên nhân thiệt hại của cơ quan chức năng tại địa bàn nơi phát sinh thiệt hại.

Hoàn thuế

Căn cứ quy định tại Điều 19 Luật thuế XNK 2016 về các trường hợp hoàn thuế, từ Điều 33 đến Điều 37 Nghị định đã quy định cụ thể về trách nhiệm của người nộp thuế, cơ quan hải quan, hồ sơ, thủ tục hoàn thuế đối với các trường hợp (i) hàng hóa xuất khẩu phải tái nhập; (ii) hàng hóa nhập khẩu phải tái xuất; (iii) máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận chuyển của các tổ chức, cá nhân được phép tạm nhập, tái xuất; (iv) hàng hóa nhập khẩu để sản xuất, kinh doanh nhưng đã xuất khẩu sản phẩm; (v) hàng hóa đã nộp thuế nhập khẩu, thuế xuất khẩu nhưng không có hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu hoặc nhập khẩu, xuất khẩu ít hơn so với hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu đã nộp thuế; (vi) không hoàn thuế đối với trường hợp có số tiền thuế tối thiểu.

Riêng hàng hóa NK để sản xuất, kinh doanh nhưng đã XK sản phẩm ngoài các quy định giống như các trường hợp khác, Điều 36 Nghị định còn quy định cơ sở để xác định hàng hóa được hoàn thuế.

Theo đó, nếu một loại nguyên liệu, vật tư, linh kiện nhập khẩu để sản xuất nhưng thu được hai hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau và chỉ XK một loại sản phẩm, thì được hoàn thuế NK tương ứng với phần nguyên liệu, vật tư, linh kiện cấu thành tương ứng với sản phẩm đã XK tính trên tổng trị giá các sản phẩm thu được.

Tổng trị giá các sản phẩm thu được là tổng của trị giá sản phẩm XK và giá bán sản phẩm tiêu thụ trong thị trường nội địa. Trị giá sản phẩm XK không bao gồm phần trị giá nguyên liệu, vật tư, linh kiện mua tại nội địa cấu thành sản phẩm XK. Đồng thời cũng quy định công thức xác định số tiền thuế NK được hoàn đối với trường hợp này.

Bảo đảm quyền ưu đãi đầu tư

Để đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư, người nộp thuế, phù hợp với quy định của Luật Đầu tư số 67/2014/QH13, Điều 39 Nghị định đã quy định dự án đang được hưởng ưu đãi về thuế XK, NK có mức ưu đãi cao hơn mức ưu đãi quy định tại Luật thuế XNK thì được tiếp tục thực hiện theo mức ưu đãi đó cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án.

Dự án đang được hưởng mức ưu đãi về thuế XK, NK thấp hơn hoặc chưa được hưởng mức ưu đãi về thuế XK, NK theo quy định tại Luật thuế XNK số 107/2016/QH13 thì được hưởng mức ưu đãi theo quy định của Luật thuế XK, NK cho thời gian hưởng ưu đãi còn lại của dự án.

nguồn : Hải Quan Việt Nam